Làm thế nào chứng minh tài sản riêng khi ly hôn?

“Sau khi kết hôn, tôi được chú ruột cho một căn nhà, và được đứng tên giấy chứng nhận sở hữu. Nay hai vợ chồng bất hòa, dẫn tới ly hôn. Tài sản chung đã thỏa thuận xong, còn căn nhà trên vợ tôi đòi chia với lý do được cho trong thời kỳ hôn nhân. Tôi làm thế nào để chứng minh đó là tài sản riêng”. (bạn đọc Nguyễn Minh Hùng)


Trả lời:
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung... Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung.


Điều 32 và 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau: Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.


Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên thấy: Nếu bạn và vợ bạn không có thỏa thuận sẽ đưa ngôi nhà đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì bạn có đủ cơ sở để chứng minh đó là tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ là giấy tặng cho của người chú, xác nhận của nhân chứng... Như vậy vợ bạn không thể yêu cầu được hưởng một phần trị giá ngôi nhà đó khi hai người ly hôn.

Thuận tình ly hôn (Điều 90 - Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000)

A. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;
- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo,Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
B. Trong trường hợp hoà giải tại Toà án mà thiếu một trong các điều kiện được nêu tại điểm A mục này thì Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.
C.  Việc chia tài sản của 2 vợ chồng khi ly hôn do thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tòa án tiến hành thủ tục chia tài sản theo quy định pháp luật (Bộ luật dân sự 2005)./

Chồng chết trong khi xin ly hôn, vợ có được hưởng tài sản của vợ?

Chồng chết trong khi xin ly hôn, vợ có được hưởng tài sản của vợ?
Năm 2005 do có mâu thuẫn về tài sản nên vợ chồng tôi đã phân chia tài sản chung. Đến 9/2008 tôi đã làm đơn xin ly hôn. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết ly hôn thì chồng tôi đột ngột qua đời nhưng không để lại di chúc. Sau khi chồng tôi chết, mẹ chồng tôi đã tự ý chia tài sản của chồng tôi rồi nói tôi không còn có quyền gì đối với tài sản của anh ấy vì trước đó hai người đã chia tài sản rồi và chúng tôi đã xin ly hôn nên tôi không còn liên quan gì nữa. Xin cho biết tôi có còn được hưởng thừa kế tài sản của chồng tôi không?
Gửi bởi vào ngày
Trả lời
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung của mình để xác lập phần tài sản của mỗi người trong khối tài sản chung đó. Việc chia tài sản của vợ chồng không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ. Trường hợp của chị, khi chị đang làm thủ tục xin ly hôn mà  chồng chị mất thì không làm mất đi quyền thừa kế của chị đối với tài sản của chồng

Theo quy định tại Điều 680 Bộ luật Dân sự quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác thì:
- Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Với các quy định nói trên thì chị hoàn toàn có quyền hưởng di sản thừa kế của chồng. Nếu không đồng tình với quyết định của gia đình nhà chồng, bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được qui định tại các điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)


Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70).
Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây(1). Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.
Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chúng tôi muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn cụ thể hơn(2).
1. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?
Theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp người có quyn có đủ chng c cho rng, v chng không có tho thun hoc không yêu cu Tòa án chia tài sn chung trong thi k hôn nhân nhm mc đích trn tránh thc hin nghĩa v v tài sn, thì người có quyn có th yêu cu Toà án chia tài sn chung ca v chng trong thi k hôn nhân để ly phn tài sn ca người v hoc người chng có nghĩa v thc hin thanh toán các khon n. Yêu cu ca người có quyn s không được Toà án công nhn, nếu vic chia tài sn chung nh hưởng nghiêm trng đến li ích gia đình ca người có nghĩa v hoc bn thân v, chng có nghĩa vđủ tài sn riêng để thanh toán các khon n.
2. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án. Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tn ti, nếu mt bên yêu cu và có lý do chính đáng, thì có th chia tài sn chung ca v chng theo qui định Điu 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) ca Lut này”. Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, theo chúng tôi cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:
Khi chia tài sn chung, Toà án căn c vào lý do, mc đích chia tài sn chung để quyết định phm vi tài sn chung được chia. Vic chia tài sn chung căn c vào các nguyên tc chia tài sn khi ly hôn qui định ti Điu 95 ca Lut HN&GĐ; nếu tài sn là nhà và quyn s dng đất thì áp dng các qui định ti các điu 97, 98 và 99 ca Lut HN&GĐ.
3. Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “m”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.
Theo chúng tôi, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sn bo đảm cho các nhu cu chung ca gia đình.
Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hp v chng không tho thun được vic bo đảm các nhu cu chung ca gia đình, thì có th yêu cu Tòa án gii quyết. Toà án quyết định mc đóng góp ca các bên trên cơ s nhu cu thc tế ca gia đình và kh năng kinh tế ca các bên hoc quyết định không chia toàn b tài sn chung, phn tài sn chung không chia được s dng cho nhu cu ca gia đình.
4. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo chúng tôi, cần qui định rõ: Trong trường hp tho thun chia tài sn chung trong thi k hôn nhân b Toà án tuyên b vô hiu, chế độ tài sn chung ca v chng được khôi phc li tình trng trước khi có tho thun chia tài sn chung.
5. Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng bản chất pháp lý của nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản pháp lý được qui định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được qui định tại Điều 27 phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thoả thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được qui định tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000(3).
6. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp sau khi chia tài sn chung, v chng có tranh chp v chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dc con chưa thành niên, con đã thành niên mt năng lc hành vi dân s, không có kh năng lao động, không có thu nhp và không có tài sn để t nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cu ca v, chng hoc ca các cá nhân, cơ quan, t chc có thm quyn. Vic gii quyết tranh chp liên quan đến con áp dng tương t qui định v quyn và nghĩa v gia cha m và con khi ly hôn.

Đơn phương xin ly hôn khi đang có thai - Đứa bé có là con chung của vợ chồng?

"Tôi làm đơn xin ly hôn chồng trong khi đang mang thai được 3 tháng. Tôi lo ngại rằng sau khi tòa án giải quyết cho ly hôn, đến lúc tôi sinh con thì chồng cũ của tôi không thừa nhận đứa trẻ là con mình và từ chối cấp dưỡng. Xin cho biết: Cháu bé sinh ra có được coi là con chung của vợ chồng không? Chồng tôi có quyền yêu cầu xin ly hôn không?".

Trả lời:

Xin chia sẻ với bạn mấy ý kiến sau:

1. Điều 85 Luật HNGĐ quy định: “1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. 2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.

Như vậy, chồng của bạn không được quyền yêu cầu ly hôn khi bạn đang mang thai. Nếu chồng bạn nhất quyết ly hôn thì tòa án cũng sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của anh ấy. Nếu muốn yêu cầu ly hôn, chồng bạn phải đợi đến khi bạn sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được nộp đơn xin ly hôn trở lại.

Tuy nhiên, cũng theo quy định của điều luật trên, người vợ vẫn có quyền xin ly hôn trong khi đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (kể cả trường hợp hai người thuận tình ly hôn). Cho nên nếu việc tiếp tục chung sống với anh ấy mà làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn và/hoặc bào thai trong bụng bạn, thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn và tòa án sẽ thụ lý và giải quyết.

2. Việc xác định con chung của vợ chồng được quy định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Ngoài ra, con được sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật cũng được xác định là con chung của hai người.

Theo quy định nói trên, giả sử nếu thời điểm cháu bé sinh ra chỉ sau 5 tháng (150 ngày) kể từ ngày bản án, quyết định của toà án xử cho vợ chồng bạn ly hôn có hiệu lực pháp luật (tôi giả định trong trường hợp bạn yêu cầu xin ly hôn vào khoảng tháng thứ 3 hoặc 4 của thai kỳ) thì đứa trẻ vẫn được xác định là con chung của hai người.

Trong trường hợp người chồng không công nhận đứa trẻ là con chung của hai người thì phải có chứng cứ và phải nhờ toà án xác định. Người chồng có thể tự mình (hoặc đề nghị tòa án) cho trưng cầu giám định ADN của đứa trẻ và/hoặc đưa ra các chứng cứ khác để chứng minh đứa trẻ không phải là con đẻ của mình. Kết quả giám định ADN (hoặc các chứng cứ khác) cùng yêu cầu của người chồng sẽ được tòa án xem xét và quyết định.

Nếu người chồng không thể chứng minh đứa trẻ không phải là con đẻ của mình thì vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo qui định của pháp luật.

Chúc chị mẹ tròn con vuông !

Xin giúp ly hôn với chồng có quốc tịch Mỹ

Con khóc giữa đêm vì đói, em quỳ lạy trời hỏi có ai như mình không? Đâu phải mẹ không muốn mua sữa cho con, mà mẹ xin ba, ba nào có nghe. Con khóc 1, em khóc 10 nghĩ sao ở Việt Nam mình đâu thiếu thốn gì mà sang Mỹ lại khổ như vậy?

Xin chào Toà soạn.
Đọc báo đã lâu chưa bao giờ em viết thư lên đây. Hôm nay có chuyện khó giải quyết và em thưc sự cảm thấy bế tắc nên vào đây nhờ các anh chị giúp em. Thành thật cảm ơn nhiều.
Em và chồng quen nhau do người khác mai mối. Tụi em nói chuyện hoàn toàn bằng online. Sau 8 tháng thì anh về Việt Nam, tụi em làm đám hỏi. Rồi anh làm giấy bảo lãnh em sang Mỹ bằng diện hôn thê. Qua đó một tháng sau tụi em tới chùa nhờ sư cô bảo lãnh, có hai người bạn của chồng đứng ra làm chứng cho tụi em là vợ chồng. Anh cầm giấy đi làm đăng ký kết hôn tại tiểu bang Washington. Tụi em có một đứa con chung, bé gái có quốc tịch Mỹ, em thì mới có thẻ xanh hai năm. Tới tháng 5/2011 em hết hạn.
Mang tiếng lấy chồng được hai năm, nhưng mới ở có một năm thì em và con về Việt Nam. Con em lúc đó mới có 5,5 tháng. Nay bé đã 16 tháng. Hai mẹ con em về nhà sống với ông bà ngoại bé gần một năm rồi.
Trước khi lấy chồng ba mẹ em có cho em 17.000 USD. Khi em tới Mỹ anh nghe gia đình nói là em mới qua, tiếng Anh chưa rành thì chồng giữ cho. Thế là anh giữ hết, em muốn mua gì, thèm ăn gì cũng xin anh. Khi có bầu thèm nhiều thứ mà không có ăn, mua về nhà cũng bị em gái của chồng mách mẹ chồng, mẹ chồng em la em.
Khi sinh con, phần vì em máu loãng vô thuốc giảm đau, nên em không có sữa mẹ, phần mình không có mẹ chăm sóc nên không có sữa cho con uống. Em đau lòng lắm chứ, cả nhà lại hùa vào nói là tới Mỹ không làm gì ra tiền thì ráng nặn sữa ra cho con uống, cái gì cũng mua thì tiền đâu mà mua. Con khóc, giữa đêm con đói em quỳ lạy trời hỏi có ai như mình không? Đâu phải mẹ không muốn mua sữa cho con, mà mẹ xin ba, ba nào có nghe. Con khóc một em khóc 10 nghĩ sao ở Việt Nam mình đâu thiếu thốn gì mà sang Mỹ lại khổ như vậy?
Tới áo quần con bé, mẹ chồng em chồng cũng nói không mua, bắt con bé mặc quần áo cũ. Nếu trong tháng em sẵn sàng mặc, lấy hên. Đằng này cứ bắt mặc ra tháng, hai đứa em của chồng có con lại là con trai, gia đình bắt con bé mặc. Mỗi khi gửi hình về Việt Nam, ba mẹ cứ hỏi sao nó mặc gì giống con trai quá, em chỉ biết khóc. Bà nội lấy đồ chơi cũ đem đi phơi, rồi kêu em về phơi tiếp cho con chơi, trong khi ở Việt Nam nhà em lại bán đồ chơi nay có con mình phải mặc quần áo cũ, đồ chơi mốc.
Nhắc lại một chút về sữa, tới khi em trách chồng, anh có mua vài lon sữa giống bệnh viện cho con uống, mẹ và hai cô em chồng nói sữa đó mắc lắm, đi mua sữa mà con của em gái chồng uống trước đó. Chồng em lại nhu nhược đi mua giống như vậy, uống vô ọc sữa. Ngày nào cũng ọc 4-5 lần, em nói chồng, mà anh đâu nghe cứ nói là em không biết chăm con. Tới khi con bé được hơn ba tháng, khi gặp bác sĩ em nói thì bác sỹ bảo là con bé phải đổi sữa, uống loại sữa bệnh vì cơ thể bé không dung nạp sữa bò mà là đậu nành. Anh chị có ai ở bên Mỹ sẽ biết sữa đó, mùi khó chịu vô cùng mà con em phải uống. Ngay trong tháng, uống sữa Similac đâu có sao, bắt con bé uống ngay sữa Enfa Milk. Dẫn tới bệnh phải uống sữa ENFAMIL PROSOBEE LIPIL (Soy Infant Formula Powder).
Con mắt bé bị sưng đỏ, em xin chồng đi khám bác sĩ, vì chồng em khám bác sĩ Mỹ, em không rành tiếng Anh nên không giao tiếp được nhiều, nhờ anh phiên dịch. Anh cũng nói bác sĩ, bác sĩ cho thuốc về sức, anh lại kể em gái nghe. Gia đình lại la đừng sức thuốc để tới ba tuổi sẽ hết, anh chị có ai giống con em không? Mắt một con gèn, đỏ nữa, sáng nào em cũng lấy khăn vải mùng nhúng nước ấm lau cho con, mà lau hoài cũng đâu có hết. Dẫn tới một con lớn con nhỏ, ba nó cứ chọc Tricia mắt con kỳ vậy, rồi cả nhà ông cười. Em đau lòng lắm anh chị ạ.
Sữa thì bắt xin nhà nước trong khi chồng thu nhập 55.000 USD/năm, chính phủ không cho, mẹ chồng chì chiết em. Quần áo cũng mặc đồ cũ, em phải nói mẹ ruột ở Việt Nam gởi đồ sang cho bé mặc. Cũng may khi em về Việt Nam hôm Tết, ba em thấy mắt cháu ngoại nên chỉ vô bệnh viện Việt Pháp khám. Nhờ bác sỹ cho thuốc, mà sức hai lần bé hết. Ơn trời con em không phải mổ mắt lớn mắt nhỏ.
Ngày xưa anh chị biết không, em cứ vẽ cảnh đi Mỹ là thiên đường. Em nghĩ qua đó sống sung sướng, chồng thương vợ, không ngờ qua rồi mới biết. Nói chuyện online toàn nghe chuyện tốt, về sống mới biết là anh nổ. Mẹ chồng em có nhà chính phủ cho, nên không tốn tiền gì cả. Khi ba chồng em bị xe đụng, có tiền bảo hiểm, mẹ chồng em lấy số tiền đó đi mua nhà cho bốn anh em đứng tên (chồng em con trưởng). Ai ở thì đóng tiền hằng tháng, giặt đồ một tuần giặt một lần, không thì giặt bằng tay, rác không cho đổ, vì tốn 30 USD/tháng, cách ngày chồng hoặc em chồng đem mấy bịch rác bỏ lên xe hơi xuống nhà mẹ chồng em đổ, vì dưới đó free. Em rửa bình sữa cho con cũng bị chì chiết, kêu đem về dưới mà rửa, trên này phải hà tiện.
Đó có ai như em không? Đi lấy chồng Việt kiều Mỹ, còn khổ hơn ở Việt Nam. Đúng là tiết kiệm là tốt nhưng làm quá là keo kiệt, mà nhà trên này hà tiện vì đóng tiền. Còn nhà mẹ chồng em ở xài nườc sả láng, mở điện... vì họ biết free.
Em sống khổ quá, không có tiếng nói với chồng. Em là vợ sống với anh được một năm với anh trong nhà thì một năm em chưa có chìa khoá mở cửa, cần gì thì anh chở đi. Em như con chim trong lồng, tù giam lỏng. Tiền em có anh cũng giữ hết, anh làm lương bao nhiêu chưa bao giờ anh chỉ cho em biết cách làm thẻ, rút tiền, kiểm tra trên mạng... chưa bao giờ em biết số tiền thực của anh. Nhà có 4 người mà 3 người làm Boeing, em nghe nói lương khá, mà em có biết đâu. Chỉ biết là rất keo kiệt, một ngày không xài 1 USD. Chỉ cuối tuần đi chợ thôi, cần gì nấu nướng, đổ rác qua nhà mẹ chồng xài. Nước Mỹ càng ngày càng suy thoái cũng do nhiều người làm biếng, ở nhà xin trợ cấp xã hội. Mà em không hiểu sao có nhiều người như gia đình chồng em đâu có khổ mà lại xin được nhà?
Sống bên Mỹ khép kín, em qua đó tháng trước tháng sau em có bầu, nên chưa biết lái xe, quanh quẩn ở nhà. Có ai ở tiểu bang WA mới hiểu, mưa hoài, có lần em chịu không nổi em tự tử hai lần. Nhưng may chồng em phát hiện kịp, em tính uống thuốc. Hôm Tết em về Việt Nam chơi hai tháng, con bé 5,5 tháng. Sau khi về bên đó em nhờ em dâu dắt đi khám bác sỹ, vì em trễ kinh. Em dâu nói em có bầu hả? Em nói làm gì có, chị mới sanh con mà, nên kinh nguyệt không đều. Nó học lại mẹ chồng em, mẹ chồng em hỏi chồng em là em có bầu hả? Chồng em nói nó ở Việt Nam làm gì đụng mà có bầu. Bà mắng em là 10 người qua Mỹ hết 9 con bỏ chồng theo trai. Rồi bà nói em có bầu với thằng nào bên Việt Nam, trời nỗi nhục này sau rửa hết đây? Em nói không có, bà sỉ mắng em. Tức mình hai mẹ con em chạy ra ngoài khóc, người ta giúp gọi 911.
Về Việt Nam chơi hai tháng, qua đó được một tháng thì em lại bồng con về Việt Nam. Khi bồng con đi, nhà chồng không cho, em phải gọi về nhà cầu cứu ba mẹ em. Ba em mệt, ông bị tim nặng. Ba nói với mẹ là nói chồng con Vy, hai mẹ con nó về chịu tang ba. Anh chị ơi lúc đó em như người mất hồn. Em sợ cái cảm giác đó lắm, quỳ lạy van xin chồng em mới cho em về Việt Nam. Khi ra khỏi sân bay thấy chỉ có mẹ em ra đón, cảm giác vừa mừng vừa tủi. Mong về nhà thấy ba, cũng may ba không sao. Nếu có gì em ân hận lắm, nên giờ hai mẹ con em ở Việt Nam. Người ta nói: "Thắng về bên nội, thối về bên ngoại". Cũng may gia đình em ở Việt Nam khá giả, cho tiền em đi khám bác sỹ Việt Pháp, mua sữa, tã... vì em về Việt Nam chồng em giữ hết tiền, đâu có trợ cấp.
Hôm nay em xin anh chị chỉ giúp em cách ly dị với chồng có quốc tịch Mỹ, con bé là con chung, có quốc tịch Mỹ, em mới có thẻ xanh hai năm. Em nghe nói phải qua Mỹ ly dị, nhưng nếu em ở Việt Nam luôn có ly dị được không? Con em có được quyền nuôi không? Em lấy chồng, đã được tới một nơi mà ngày trước em nghĩ là thiên đường, nay em nghĩ là địa ngục. Lời của em bây giờ là đứa con, chồng em nói không chu cấp tiền gì cả, số tiền 17.000 USD để đó tới khi nào con tới tuổi đi học thì đưa con. Em nói tiền đó của em, anh nói vậy chứ lâu nay em ăn uống ai lo cho em? Thì ra anh kể công.
Xin anh chị tư vấn giúp em nha. Em mong được quyền chăm con, còn anh và gia đình anh tính toán không chu cấp cũng không sau. 17.000 USD coi như em bố thí cho anh, chồng em cũng đang bị bệnh suyễn nặng, phổi có nước. Tiền có thể kiếm được nhưng tình cảm mất rồi thì khó lấy lại, em suy nghĩ như thế.
Mong toà soạn và anh chị dành chút thời gian đọc bài của em gởi nha. Lâu rồi không viết thư nên câu văn lủng củng. Xin tư vấn giúp em. Một lần nữa xin chúc anh chị nhiều sức khỏe, thật hạnh phúc.

Có thể tự mình xin ly hôn?

Vợ chồng tôi mâu thuẫn trầm trọng, tôi đã viết đơn xin ly hôn nhưng chồng tôi không ký. Tôi không biết có quyền tự mình xin ly hôn không? Thủ tục giải quyết như thế nào?
(Trần Ngọc Nga - Quang Trung, Q.Gò Vấp, TP.HCM)
Trả lời:
1. Luật hôn nhân gia đình qui định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, nếu một bên vợ hoặc chồng muốn xin ly hôn mà bên còn lại không đồng ý thì một người có quyền tự mình viết đơn xin ly hôn để yêu cầu tòa án giải quyết. Đó là đơn khởi kiện về việc xin ly hôn.
Nếu cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn, thống nhất việc phân chia tài sản và trách nhiệm nuôi con chưa thành niên thì cả hai vợ chồng phải cùng ký vào đơn. Đó là đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Do vậy, bà Nga có quyền viết đơn xin ly hôn gửi đến tòa án cấp quận huyện, nơi chồng bà đang cư trú hoặc làm việc.
2. Thủ tục: sau khi nộp đơn, tòa án sẽ yêu cầu bà đóng tiền tạm ứng án phí. Sau đó tòa sẽ thụ lý và giải quyết, cụ thể như sau: sau khi thụ lý tòa án sẽ báo cho chồng bà biết việc khởi kiện của bà để chồng bà trình bày ý kiến, sau đó tòa sẽ mời vợ chồng bà đến hòa giải, nếu hòa giải không đạt kết quả thì tòa sẽ mở phiên tòa để xét xử.
Sau khi tòa án xét xử sơ thẩm xong và có bản án, nếu bà và chồng bà không đồng ý với phán quyết của tòa án thì có quyền kháng cáo để yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Bản án của tòa phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.

Đơn phương ly hôn có yếu tố nước ngoài

Em gái tôi kết hôn với một người Mỹ, có đăng ký kết hôn tại Đà Nẵng, hiện sống tại Đà Nẵng. Sống chung không phù hợp, nay em tôi muốn đơn phương ly hôn. Xin hỏi thủ tục ly hôn thế nào?
(TR.TH.T.)
- Trả lời:
Theo điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, em gái anh có quyền đơn phương yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn mà không cần có sự đồng ý của người chồng.
Hồ sơ gồm: đơn xin ly hôn; giấy chứng nhận kết hôn; bản sao chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu), hộ khẩu của người muốn ly hôn; bản sao hộ chiếu của người chồng, bản sao giấy tờ cư trú của người chồng tại VN (nếu có); bản sao giấy khai sinh của con chung (nếu có); giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung (nếu có).
Vì chồng là người nước ngoài nên tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú chung của vợ chồng hoặc nơi cư trú của người chồng (nếu sống tại VN), hoặc nơi cư trú của người vợ (nếu người chồng không cư trú tại VN), có thẩm quyền thụ lý giải quyết việc ly hôn này.
Theo điều 167 Bộ luật tố tụng dân sự, sau khi nhận được hồ sơ nói trên, trong thời hạn năm ngày làm việc tòa án sẽ thông báo cho biết kết quả có thụ lý vụ án ly hôn hay không.

Ly hôn khi một bên không đồng ý

Tôi lập gia đình được 3 năm và có một cháu gái 2 tuổi. Gần đây quan hệ vợ chồng rất căng thẳng do anh ấy có tình nhân. Dù tôi nhiều lần khuyên nhủ song anh ta vẫn tiếp tục mối quan hệ bất chính, tôi phải làm đơn ly hôn nhưng chồng tôi không chịu ký. Tôi phải làm gì để thoát khỏi cuộc hôn nhân này và đảm bảo được quyền lợi của mình và con? Nguyễn Thị Mai (Thanh Xuân, Hà Nội).
 
Trả lời:
Trường hợp của bạn là ly hôn theo yêu cầu của một bên, quy định tại điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu chồng bạn không chấp nhận ký vào làm đơn ly hôn thì bạn có quyền gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và trình tự giải quyết được quy định cụ thể tại điểm 10 Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo đó, bước đầu Tòa án sẽ tiến hành hòa giải, nếu hòa giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ thành. Sau 15 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không thay đổi ý kiến, Viện Kiểm sát không phản đối thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành. Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo
Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là tuy pháp luật tố tụng chưa quy định, nhưng đối với người có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị Toà án bác đơn xin ly hôn thì sau một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn.
Theo quy định tại khoản 1 điều 89 Luật hôn nhân và gia đình về căn cứ cho ly hôn, tòa án sẽ xem yêu cầu ly hôn của bạn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án giải quyết cho ly hôn. Khoản 1 điều 95 Luật hôn nhân và gia đình quy định về việc phân chia tài sản sau khi ly hôn là do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn được quy định tại điều 92 Luật hôn nhân và gia đình, hai bên thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án sẽ giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của bạn In bài này

Chia tài sản sau khi ly hôn

Trước khi kết hôn chồng tôi đã có nhà riêng, sau khi cưới tôi ở tại nhà của chồng và có 1 con. Nay chồng tôi nảy sinh mối tình với người khác, không thể chịu đựng được, tôi muốn ly dị, vậy tôi có được nuôi con không và có được chia đôi tài sản đó không?

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2001) thì vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng - cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ chồng như tư trang, đồ dùng cá nhân. Pháp luật cũng quy định vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Khấu hao tài sản riêng dùng cho cuộc sống chung coi như là chi phí cho cuộc sống vợ chồng.
Trường hợp của bạn không rõ khái niệm “nhà riêng” trước khi kết hôn là của ai, sau khi lấy nhau hai vợ chồng có đóng góp xây dựng thêm không... Do đó, nguyên tắc chung khi giải quyết vụ án ly hôn mà các bên có yêu cầu phân chia tài sản (không thỏa thuận được) thì tòa án phải giải quyết luôn trong vụ án. Nếu hai vợ chồng bạn không thống nhất được việc phân chia căn nhà đang đứng tên người chồng thì bạn có quyền yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.
Về vấn đề nuôi con sau khi ly hôn: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nếu các bên không có thoả thuận khác.
Bạn có thể căn cứ vào các quy định nêu trên để giải quyết vấn đề của mình. Hy vọng bạn sẽ sớm vượt qua khó khăn để tìm tới hạnh phúc.   
 

Án phí ly hôn

Án phí ly hôn

Hỏi:
Xin luật sư cho biết thủ tục ly hôn có phức tạp không ạ? Tôi muốn nộp đơn thì phải đóng án phí bao nhiêu, nếu có chia tài sản thì chi phí có tăng thêm hay không? Tôi có bị đánh thuế thu nhập trên phần tài sản được chia không? 
Trả lời:
Thủ tục ly hôn phức tạp hay đơn giản tùy thuộc vào vụ việc. Bạn không nói rõ do đó tôi không thể trả lời bạn chi tiết được. Án phí ly hôn là 200.000 Việt Nam đồng. Nếu có liên quan đến việc chia tài sản thì bạn phải chịu thêm mức án phí tương ứng tỉ lệ với tài sản được chia theo qui định của pháp luật. Tài sản được chia không phải là thu nhập, do đó bạn không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Án phí hôn nhân tăng

Từ ngày 1/7/2009, Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án có hiệu lực thi hành. Đáng lưu ý là theo quy định mới, lệ phí, án phí bình quân tăng gấp bốn lần so với quy định cũ.
Xin giới thiệu những quy định mới về án phí, lệ phí trong các vụ, việc về HNGĐ.
* Những trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí, lệ phí:
- Người khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Cơ quan, tổ chức yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
* Những yêu cầu về HNGĐ (còn gọi là việc dân sự) thuộc diện phải nộp lệ phí, mức thu 200.000đ/việc bao gồm:
- Cá nhân yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi...
* Những tranh chấp về HNGĐ (còn gọi là vụ án dân sự) thuộc diện phải nộp án phí, mức thu 200.000đ/ vụ, bao gồm:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
- Tranh chấp về cấp dưỡng...
* Một số lưu ý về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
- Các đương sự trong vụ án về HNGĐ có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, thì ngoài việc chịu án phí dân sự nói trên, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với phần giá trị tài sản mà họ được chia.
Sau đây là mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch (trích Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án, ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/2/2009):
Ví dụ: Khi anh A và chị B ly hôn, nhưng có tranh chấp tài sản với tổng giá trị là 8.000.000.000đ. Kết quả cuối cùng tòa án xử chia đôi, thì ngoài án phí ly hôn 200.000đ, mỗi bên còn phải nộp 112.000.000đ án phí, tương ứng với 4.000.000.000đ được chia (phần tài sản tranh chấp có giá ngạch).
Trường hợp nếu ban đầu anh A và chị B có tranh chấp về tài sản chung, nhưng sau khi tòa án hòa giải, các bên đã thỏa thuận được về vấn đề chia tài sản chung (chia đôi) trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, thì tương ứng với 4.000.000.000đ được chia, mỗi bên chỉ phải nộp 56.000.000đ án phí (tức 50% mức án phí
quy định).
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ví dụ: anh A đơn phương xin ly hôn với chị B, thì anh A phải nộp án phí dân sự là 200.000đ, bất luận là tòa án xử cho ly hôn hay "bác" đơn của anh A, chị B không phải nộp án phí.
Như vậy, với pháp lệnh mới, mức án phí HNGĐ rất cao. Là người làm công tác trong ngành tư vấn Luật, tôi thành thật đề nghị các gia đình trước "ngưỡng" ly hôn nên cân nhắc thật kỹ, kẻo không tài sản, tiền bạc không chia được cho nhau là mấy lại vừa mất hết tình thâm... Con cái thiệt thòi.
 Giá trị tài sản có tranh chấp
Mức án phí 
 a) Từ 4.000.000đ trở xuống
 200.000đ
 b) Từ trên 4.000.000đ đến 400.000.000đ
 5% giá trị tài sản có tranh chấp
 c) Từ trên 400.000.000đ đến 800.000.000đ
 20.000.000đ + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000đ
 d) Từ trên 800.000.000đ đến 2.000.000.000đ
 36.000.000đ + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000đ
 đ) Từ trên 2.000.000.000đ đến 4.000.000.000đ
 72.000.000đ + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000đ
 e)  Từ trên 4.000.000.000đ
 112.000.000đ + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000đ.

Chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không ly hôn

Do nhu cầu kinh doanh riêng của mỗi người nên tôi và vợ tôi muốn chia tài sản chung nhưng không ly hôn. Xin cho biết thủ tục chia tài sản trong trường hợp này và sau khi chia, các vấn đề liên quan đến tài sản của mỗi bên được giải quyết thế nào? (Trần Lập Minh, Đông Ba, thành phố Huế).
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình, khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng … vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được có quyền yêu cầu Toà án giải quyết. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân - Gia đình hướng dẫn: Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải ghi rõ các nội dung sau đây: Lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có; thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; các nội dung khác, nếu có.
Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Sau khi chia tài sản chung, các vấn đề liên quan đến tài sản của mỗi bên sẽ được giải quyết như sau:
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Như vậy, việc thanh toán các nghĩa vụ riêng của mỗi bên (phát sinh sau khi việc chia tài sản chung có hiệu lực) sẽ do mỗi bên tự chịu trách nhiệm bằng phần tài sản riêng của mình.

Vợ chồng thuận tình ly hôn, chia tài sản chung thế nào?

Hỏi: Vợ chồng tôi kết hôn năm 2002. Chúng tôi sống trên mảnh đất do bố mẹ chồng cho chồng tôi. Đến năm 2006 vợ chồng tôi ly hôn, tôi nhận nuôi con.
Về phần tài sản: Tôi không được chia gì vì toà án cho rằng đó là đất do ông cha để lại không phải đất của vợ chồng tôi (đất đứng tên chồng cũ của tôi). Trong “Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về thuận tình ly hôn”, về phần tài sản chung toà án ghi: “Không có”.

Xin hỏi: Quyết định của toà án như thế là đúng hay sai?

Thế Thị Hoà
(Đan Phượng, Hà Nội)

- Trả lời:

Khoản 1, Điều 27 - Luật Hôn nhân và Gia đình qui định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”.

Trong thư bạn không nói rõ mảnh đất đó là của bố mẹ chồng bạn cho chồng bạn trong trường hợp nào và chồng bạn có nhập tài sản đó vào khối tài sản chung vợ chồng hay không.

Việc căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chồng của bạn mà cho rằng đó là tài sản riêng của chồng bạn là không đúng. Nếu tại toà, bạn chứng minh có đóng góp công sức tạo lập khối tài sản đó hoặc mảnh đất đó là do bố mẹ chồng bạn cho vợ chồng bạn hoặc tặng riêng cho chồng bạn mà chồng bạn sáp nhập tài sản đó vào khối tài sản chung thì đó là tài sản chung vợ chồng và khi ly hôn tài sản đó sẽ được chia theo qui định của pháp luật.

Trong trường hợp chồng bạn được tặng cho tài sản trước khi kết hôn hoặc bố mẹ chồng bạn tặng riêng cho chồng bạn mà chồng bạn không đồng ý sáp nhập vào tài sản chung thì đó vẫn là tài sản riêng của chồng bạn.

Chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn

Tôi và vợ tôi ly hôn vào năm 2005, trong thời gian sống chung, tôi có tạo lập được một mảnh đất và một căn nhà cấp 4. Khi Toà án giải quyết ly hôn, vợ tôi có viết lời cam kết trước sự chứng kiến của vị thẩm phán và cô thư ký với nội dung: Sau khi ly hôn, vợ tôi không tranh chấp phần nhà đất nói trên mà để cho hai con chung của chúng tôi (một cháu gái 20 tuổi và một cháu trai 10 tuổi). Gần 2 năm sau, khi bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, vợ tôi lại làm đơn gởi Tòa án yêu cầu chia tài sản chung. Tòa án đã thụ lý.

Vậy, xin quí Quý công ty cho biết:

- Việc Tòa án chấp nhận thụ lý đơn tranh chấp của vợ tôi có đúng hay không?

- Vợ tôi có còn liên quan gì đối với phần đất nhà đất của tôi và các con không?
Gửi bởi vào ngày
Trả lời
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau: Vì bạn và vợ bạn đã có một thời gian là vợ chồng, chung sống hợp pháp với nhau và có hai con chung. Pháp luật qui định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân...”. Vì vậy, sau 2 năm ly hôn, vợ bạn gửi đơn tranh chấp tài chung của hai vợ chồng là không có gì sai.
Đó là quyền lợi của các bên đương sự, được pháp luật công nhận. Việc Tòa án thụ lý hồ sơ cũng hoàn toàn đúng pháp luật. Việc vợ bạn đã có lời cam kết trước đây là cho tài sản cho hai con nhưng việc cho đó chưa hoàn tất do chưa làm thủ tục tước bạ sang tên. Vì vậy, lời cam kết trước đây của vợ bạn không có đủ giá trị pháp lý để làm chấm dứt quyền lợi của vợ bạn đối với khối tài sản chung nói trên.

Làm thế nào chứng minh tài sản riêng khi ly hôn?

“Sau khi kết hôn, tôi được chú ruột cho một căn nhà, và được đứng tên giấy chứng nhận sở hữu. Nay hai vợ chồng bất hòa, dẫn tới ly hôn. Tài sản chung đã thỏa thuận xong, còn căn nhà trên vợ tôi đòi chia với lý do được cho trong thời kỳ hôn nhân. Tôi làm thế nào để chứng minh đó là tài sản riêng”. (bạn đọc Nguyễn Minh Hùng)
Trả lời:
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung... Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung.
Điều 32 và 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau: Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.  
Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên thấy: Nếu bạn và vợ bạn không có thỏa thuận sẽ đưa ngôi nhà đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì bạn có đủ cơ sở để chứng minh đó là tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ là giấy tặng cho của người chú, xác nhận của nhân chứng... Như vậy vợ bạn không thể yêu cầu được hưởng một phần trị giá ngôi nhà đó khi hai người ly hôn.

Chia tài sản chung là nhà đất khi ly hôn

Việc vợ chồng ly hôn có tranh chấp về việc phân chia nhà đất diễn ra tương đối phổ biến, nhiều vụ rất gay gắt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi về việc chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn, những vấn đề cần lưu ý khi giải quyết, đồng thời chúng tôi cũng nêu một số kiến nghị về vấn đề này.
I/ Khái quát hệ thống văn bản pháp luật
Trong thời gian từ 1959 đến 2000, các văn bản về chia tài sản chung vợ chồng nói chung và chia nhà đất cho vợ chồng nói riêng nằm rải rác ở nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác nhau và dựa theo nguyên tắc: “Khi chia tài sản chung vợ chồng (trong đó có nhà đất) phải xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình hình cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên. Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của con cái chưa thành niên, đồng thời bảo vệ lợi ích của sản xuất và lợi ích về nghề nghiệp của mỗi bên.”
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là đạo luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta, nó có ý nghĩa rất quan trọng, ghi nhận “quyền bình đẳng” của vợ với chồng trong mọi quan hệ (Điều 12). Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới  (Điều 15). Điều 28 quy định về việc cấm đòi trả tài sản khi vợ chồng ly hôn, Điều 29 quy định về phân chia tài sản khi vợ chồng ly hôn. Để hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, toà án nhân dân tối cao đã ban hành một số văn bản dưới  đây: Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960 hướng dẫn việc xử lý các việc ly hôn và các vấn đề có liên quan; Thông tư số 3-NCPL ngày 3-3-1966 về trình tự giải quyết việc ly hôn; Thông tư số 06-TATC ngày 25-2-1974 hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân sự; Thông tư số 25-TATC ngày 30-11-1974 hướng dẫn việc hoà giải trong tố tụng dân sự; Chỉ thị số 69-TATC ngày 24-12-1979 về việc giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau ly hôn…
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời đã có những quy định về vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng (Điều 14, 15, 16); quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng khi hôn nhân tồn tại (Điều 18). Việc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn được quy định cụ thể hơn và có thêm quy định về trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn (Điều 42). Hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20-1-1988 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và một số các văn bản pháp luật khác trong đó có Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 để hướng dẫn việc thi hành Luật.
Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai cũng có những quy định để điều chỉnh các quan hệ về việc phân chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn.
Những vướng mắc trong việc phân chia nhà đất của vợ chồng khi ly hôn còn được Toà án nhân dân tối cao giải đáp trong báo cáo tổng kết ngành hàng năm, trong các Công văn hướng dẫn của Viện khoa học xét xử, của Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao trao đổi về giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3-10-2001 của Chính phủ…) đã quy định rõ ràng, cụ thể, đầy đủ hơn về
-          vấn đề tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng (Điều 27, 28, 32, 33);
-          việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29);
-          việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn (Điều 96).
-          việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung (Điều 32 LHNGĐ năm 2000, Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP);
-          khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng (điều 9 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          chia quyền sử dụng đất mà vợ chồngđược nhà nước giao (Điều 24 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          chia quyền sử dụng đất của chồng được Nhà nước cho thuê (Điều 25 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          chia quyền sử dụng đất mà vợ, chồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế chung, nhận thế chấp (Điều 26 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng được giao chung với hộ gia đình (Điều 27 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ, chồng khi ly hôn (Điều 98 LHNGĐ 2000, Điều 5 Nghị định 70/2001/NĐ-CP);
-          giải quyết quyền  lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuê của Nhà nước (Điều 28 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng (Điều 27 LHNGĐ 2000, Điều 5 Nghị định 70/2001/NĐ-CP);
-          giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuê của tư nhân (Điều 29 NĐ 70/2001/NĐ-CP);
-          giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên (Điều 99 LHNGĐ 2000)…
II/ Thực tiễn xét xử
Với những quy định tương đối cụ thể, rõ ràng trên đã tạo thuận lợi cho các cấp Toà án chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, vẫn còn một số bản án có thiếu sót đó chủ yếu do những nguyên nhân dưới đây:
a)      Xác định sở hữu chung
Trước khi xem xét phân chia nhà đất, cần phải xác định rõ đâu là nhà đất chung, nhà đất riêng của vợ chồng, nhà đất nào là tài sản chung của vợ chồng với người khác, nhà đất nào là di sản thừa kế mà vợ, chồng chỉ là một thừa kế và đang quản lý tài sản… Chỉ khi đã làm rõ được các yêu cầu này thì Thẩm phán mới có cơ sở để phân chia nhà đất cho vợ, chồng. Thực tiễn cho thấy, có nhiều vụ án mà nhà đất được Toà án phân chia cho vợ, chồng không phải là tài sản chung vợ chồng mà là di sản thừa kế chưa chia. Sai sót này thường do Thẩm phán tin tưởng vào lời khai của vợ, chồng mà không điều tra rõ về nguồn gốc nhà đất đang tranh chấp. Cũng có những vụ án mà Toà án đã chia cả nhà đất của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ cho vợ, chồng vì suy đoán cho rằng các bậc cha mẹ đã cho vợ chồng, nhưng lại không đưa ra được căn cứ xác đáng chứng minh có việc tặng cho nhà đất giữa cha mẹ và vợ chồng. Nhưng chủ yếu các vụ án có nhiều sai sót lại tập trung vào việc xác dịnh tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng không đúng… dẫn đến việc lấy nhà đất của người này chia cho người khác.
Giải quyết chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn, cần phải có sơ đồ chi tiết của nhà đất cần phân chia, đặc biệt là trường hợp chia cho vợ chồng cùng ở trên một ngôi nhà, một thửa đất. Việc phân chia phải có sơ đồ kèm theo phần quyết định của bản án. Mốc giới phân chia, lối đi, việc xây tường ngăn… cũng cần phải tuyên rõ ràng, cụ thể, chính xác các số đo, tránh việc  nhầm lẫn, có thể hiểu khác nhau. Khi phân chia, phải tính toán đến việc thuận lợi, khi sử dụng cho các đương sự như : Vừa có nhà đất ở, vừa có công trình phụ (nếu điều kiện cho phép) và đặc biệt phải có lối đi. Trong thực tế, đã có một số bản án có phần quyết định phân chia nhà đất cho vợ chồng rất chung chung, mốc giới không rõ ràng, vẽ sơ đồ cẩu thả, tẩy xoá… Có nhiều  bản án tuyên không đúng về số đo, giao nhà cho một bên, còn đất (trên có nhà) lại giao cho bên kia… dẫn đến việc khó có thể thi hành án hoặc không thi hành án được.
b)      Chia hiện vật
Việc phân chia nhà ở, đất ở cho vợ, chồng trước tiên phải căn cứ vào nhu cầu thực sự của bên được chia. Cần phải xem xét ai cần nhà hơn để phân chia (bằng hiện vật), đảm bảo quyền lợi chính đáng của cả hai bên đương sự. Chú ý đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ phải nuôi con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động được và không có tài sản tự nuôi mình.
Đối với  nhà diện tích quá nhỏ cũng cần phải xét xem hai ngưòi có thực sự ở nhà đó từ trước khi ly hôn hay vợ, chồng đã có nơi ở khác (ở nhà tập thể cơ quan, quân đội…), hoặc đi công tác ở địa phương khác. Cách hay nhất là nên chia cho người đang thực sự ở nhà đất đó, còn cho người kia nhận giá trị. Đối với nhà đất có thể chia được mà cả hai bên đều yêu cầu chia, thì tuỳ tình hình cụ thể của nhà đất mà phân chia để đảm bảo giá trị sử dụng của nhà, chứ không máy móc phải chia thành hai phần bằng nhau cho cả hai bên đương sự. Ví dụ: Nhà mái ngói có 5 gian thì có thể chia cho một bên 2 gian, bên kia 3 gian cho đúng vào xà ngang của nhà để giữ được giá trị sử dụng của  ngôi nhà, chứ không nhất thiết phải chia nhà cho cả hai bên đương sự, mà nên chia cho một bên, còn bên kia nhận đất và nhận khoản thanh toán một phần gí trị nhà để có thể làm nhà khác.
Khi chia nhà đất cũng cần lưu ý đến nghề nghiệp của các đương sự để phân chia cho hợp lý. Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là ki ốt bán thuốc tây thì khi ly hôn nên chia cho bên có nghề dược để tiếp tục kinh doanh… Đối với nhà đất ở vị trí thuận tiện cho kinh doanh: nhà mặt phố, trung tâm chợ… mà cả hai vợ chồng đã dùng làm địa điểm buôn bán đã nhiều năm, nếu việc phân chia nhà đất không làm mất đi giá trị sử dụng của nhà đất thì nên chia cho cả hai vợ chồng (cho dù diện tích nhỏ) để đảm bảo việc buôn bán cho cả hai vợ chồng khi ly hôn.
c)       Định giá nhà đất
Không phải bất cứ vụ án ly hôn nào cũng có thể chia hiện vật cho cả hai bên đương sự. Việc định giá nhà đất không đúng và chỉ phân chia hiện vật cho một bên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài. Cá biệt, có một số vụ án giá nhà đất vẫn được định theo khung giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất tranh chấp; việc định giá không có đủ các đương sự; thành phần Hội đồng định giá không đúng theo quy định của pháp luật.
Để hướng dẫn việc định giá. Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về thành phần Hội đồng định giá tại điểm 7 mục IV Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 và trong Công văn số 92/2000/KHXX ngày 21-7-2000 "Hướng dẫn việc xác định giá quyền sử dụng đất thì Toà án chấp nhận giá do các bên đương sự tự nguyện thoả thuận được với nhau, nếu không thỏa thuận được thì giá quyền sử dụng đất được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương nơi có đất tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm.
Như vậy, theo quy định này thì giá quyền sử dụng đất trước hết phụ thuộc vào chính sự thoả thuận của các đương sự trên cơ sở pháp luật (giá đó phải dựa trên cơ sở giá thị trường hoặc khung giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất tranh chấp ban hành). Trong trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận được giá quyền sử dụng đất, thì Toà án thành lập Hội đồng định giá có thành phần: Đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan… Toà án, Viện kiểm sát chỉ giám sát việc định giá chứ không phải là thành viên của Hội đồng định giá. Giá quyền sử dụng đất do Hội đồng định giá quyết định căn cứ vào giá thực tế chuyển nhượng sử dụng đất cùng loại, có vị trí tương đương tại địa phương, có tham khảo đất do hai bên đương sự đưa ra. Thực tế, có những vụ án đương sự đưa ra các giá khác nhau và Hội đồng định giá đã dung hoà giá do các đương sự đưa ra, dẫn đến việc nếu giao hiện vật cho một bên thì bên kia sẽ khiếu nại. Vì vậy, khi định giá, nếu một bên đưa ra giá cao và xin nhận hiện vật thực sự có nhu cầu về nhà ở thì nên giao nhà đất cho bên đó.
d)      Khối tài sản chung có nhiều nhà, đất
Về nguyên tắc, cần phải chia nhà đất cho cả hai bên đương sự. Khi chia nhà đất phải xem xét nhu cầu về kinh doanh, buôn bán, nghề nghiệp của các đương sự.
Đối với những cặp vợ chồng có nhiều nhà đất mà thời gian ly thân thì khi ly thân thường mỗi người đã ở một địa điểm mà họ cho là hợp lý. Ví dụ: Một người đang kinh doanh thuốc tây ở chợ, còn bên kia làm nghề chăn nuôi gà vịt thì khi ly thân thường là bên bán thuốc tây sẽ sinh sống ở ngôi nhà đang bán thuốc tây, bên kia sẽ sinh sống ở nhà đất khác của vợ chồng.
Thực tế đã có những vụ án Toà án đã chia nhà đất không hợp lý, dẫn đến khó khăn cho việc sử dụng, làm ăn, buôn bán… của vợ, chồng. Cá biệt có những trường hợp chồng ở trong nước kinh doanh đồ mộc, có xưởng mộc tại nhà, đã kinh doanh ổn định rất nhiều năm, trong khi người vợ đang làm ăn sinh sống tại nước ngoài nhưng khi vợ chồng ly hôn, Toà án cấp sơ thẩm lại chia cho người vợ ngôi nhà có xưởng mộc, còn chồng ở ngôi nhà khác (vụ Nguyễn Thị Khánh - Trần Anh Đảm ở Bắc Giang).
e) Khối tài sản vợ chồng khó xác định do sống chung với gia đình vợ hoặc chồng
Theo quy định của pháp luật hiện hành (khoản 1 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) thì trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình mà không xác định được, thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình.
Việc chia một phần trong khối  tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia dình, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Thực tiễn áp dụng điều luật này, các cấp toà án đã gặp phải khó khăn: Trường hợp nào thì chia cho vợ hoặc chồng nhà đất, trường hợp nào thì chia bằng giá trị. Có những vụ án, tài sản chung của vợ chồng và gia đình gồm rất nhiều nhà đất nhưng khi phân chia lại chỉ chia cho con dâu, con rể giá trị nhà đất (vụ Nguyễn Thanh Tuấn - Phạm Thị Liệu ở Bắc Giang). Nhưng cũng có những bản án, mặc dù vợ chồng không có công sức gì trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung, không có công sức gì trong việc duy trì đời sống chung của gia đình, nhưng Toà án lại trích chia một phần tương đối lớn nhà đất cho vợ chồng (vụ Hồ Thị Yến - Trần Thị Kim Dâu ở An Giang).
Chúng tôi cho rằng, về nguyên tắc, nếu trong thời gian vợ chồng sống chung với gia đình mà phát triển tài sản là nhà đất và nếu vợ chồng có yêu cầu thì cần chia nhà đất cho vợ chồng. Đối với trường hợp trong thời gian vợ chồng chung sống với gia đình, mà gia đình không mua sắm thêm được nhà đất nào mới, thì Toà án cần điều tra làm rõ: Nếu không có vợ chồng  cùng duy trì, bảo quản  mà gia đình sẵn thì nhà đất có tồn tại, có giữ nguyên được giá trị hay không. Nếu vợ chồng có công duy trì, bảo quản nhà đất thì cũng nên trích một phần giá trị tương xứng với công sức của vợ chồng (thường là một phần nhỏ so với giá trị nhà đất của gia đình). Còn trường hợp vợ chồng không có công duy trì, bảo quản nhà đất và không có vợ chồng thì mọi người trong gia đình vẫn duy trì, bảo quản được nhà, đất, hơn nũa vợ chồng lại được hưởng lợi từ việc sử dụng nhà đất thì việc trích công sức không nên đặt ra. Nếu sau khi ly hôn, vợ chồng có khó khăn về chỗ ở mà đất gia đình lại rộng thì có thể giao cho vợ, chồng một phần đất nhất định (nếu việc giao đất đó không ảnhhưởng đến đời sống chung của gia đình) nhưng buộc bên được giao đất phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho gia đình.
III/ Những qui định mới
Ngày 26-11-2003, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Đất đai (gọi là Luật Đất đai năm 2003 có những điểm mới mà khi giải quyết các vụ án phân chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn, các cấp Tòa án cần lưu ý để giải quyết cho phù hợp.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất: Với sự ra đời của luật Đất đai năm 2003, vấn đề tặng cho quyền sử dụng đất đã được pháp luật đất đai ghi nhận tại Điều 106 (Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 chưa công nhận quyền này của chủ thể sử dụng đất). Đồng thời, Luật Đất đai năm 2003 cũng quy dịnh về trình tự, thủ tục đăng ký tặng cho quyền sử dụng đất (Điều 129). Vì vậy, chúng tôi cho rằng: Kể từ ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thì việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ và vợ chồng, giữa vợ với chồng… phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật đất đai mới được coi là hoàn thành. Điều này rất có ý nghĩa khi xem xét chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn.
Thủ tục hoà giải tranh chấp đất đai: Từ ngày 1-7-2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực) thì vấn đề hoà giải tranh chấp đất đai không còn là việc “khuyến khích” như trước kia nữa.
Theo Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, chỉ khi hoà giải tranh chấp đất đai không thành tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Toà án hoặc Ủy ban nhân dân) mới được xem xét giải quyết.
Tuy vậy theo Dự thảo Bộ luật Tố tụng Dân sự thì không thấy có quy định phải có kết quả hoà giải tranh chấp đất đai không thành ở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thì Toà án mới xem xét các thủ tục để thụ lý vụ án.
Về định giá đất: Theo quy định tại Điều 55 Luật Đất đai năm 2003 thì giá đất được hình thành trong 3 trường hợp sau đây:
1. Do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của Luật này;
2. Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
3. Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Luật Đấi đai năm 2003 quy định cho những tổ chức có đủ điều kiện, năng lực và được hoạt động dịch vụ về đất được tư vấn giá đất. Việc xác định giá đất, phương pháp xác định giá đất do Chính phủ quy định. Giá đất tư vấn được sử dụng để tham khảo trong quản lý nhà nước về tài chính đất đai và trong hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất (Điều 57).
Theo khoản 1 Điều 91 Dự thảo Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Toà án chỉ ra quyết định giá tài sản đang có tranh chấp nếu giữa các bên đương sự không thống nhất được giá tài sản đó hoặc thoả thuận theo mức thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí.
Vậy cơ sở nào để xác định là giá mà các đương sự thoả thuận là thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí, để Toà án dựa vào đó ra quyết định thành lập Hội đồng định giá. Phải chăng, Toà án cần lấy giá đất của những tổ chức được nhà nước cho phép tư vấn để làm tài liệu tham khảo khi xem xét có nên hay không nên thành lập Hội đồng định giá khi các đương sự đã thoả thuận với nhau về giá? Hội đồng định giá có cần tham khảo giá đất của các tổ chức được phép tư vấn khi định giá quyền sử dụng đất hay không?…
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự thì, đương sự có quyền có mặt khi định giá và được tham gia ý kiến vào việc định giá; quyền quyết định về giá thuộc Hội đồng định giá. Như vậy, sự có mặt của các đương sự không phải là "bắt buộc" như hiện nay nữa, nếu họ không có mặt cũng không ảnh hưởng đến việc định giá của Hội đồng định giá. Quy định này đã hạn chế được việc gây khó khăn của các đương sự cho Toà án trong khi Toà án giải quyết vụ án, đồng thời lại nảy sinh những vấn đề khác cần phải xem xét như: Trường hợp đương sự không có mặt khi định giá nhưng sau đó đưa ra giá cao hơn giá của Hội đồng định giá và xin nhận hiện vật thì giải quyết như thế nào? Những tiêu chí nào cần đặt ra khi định giá…
Chúng tôi cho rằng, trước khi định giá nhà đất tranh chấp, Toà án cần yêu cầu các đương sự đưa ra giá nhà đất tranh chấp để nếu họ không có mặt khi định giá thi Hội đồng định giá cũng có thẻ biết được ý kiến của họ. Mặt khác, Hội đồng định giá cũng cần tham khảo giá đất của các tổ chức tư vấn, giá đất phải phù hợp với giá thị trường ở thời điểm chuyển nhượng…
Những vấn đề khác. Đang cần có sự hướng dẫn
-          Sự tham gia của cơ quan quản lý nhà đất đối với nhà ở thuê của Nhà nước;
-          việc phân chia nhà đất trong thời kỳ hôn nhân có cần thiết phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà đất hay chỉ cần công chứng, chứng thực;
-          khôi phục chế độ tài sản chung là nhà đất của vợ chồng, việc nhập tài sản riêng là nhà đất của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung…