Làm thế nào chứng minh tài sản riêng khi ly hôn?

“Sau khi kết hôn, tôi được chú ruột cho một căn nhà, và được đứng tên giấy chứng nhận sở hữu. Nay hai vợ chồng bất hòa, dẫn tới ly hôn. Tài sản chung đã thỏa thuận xong, còn căn nhà trên vợ tôi đòi chia với lý do được cho trong thời kỳ hôn nhân. Tôi làm thế nào để chứng minh đó là tài sản riêng”. (bạn đọc Nguyễn Minh Hùng)


Trả lời:
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung... Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản có tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung.


Điều 32 và 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau: Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.


Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên thấy: Nếu bạn và vợ bạn không có thỏa thuận sẽ đưa ngôi nhà đó vào khối tài sản chung của vợ chồng thì bạn có đủ cơ sở để chứng minh đó là tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ là giấy tặng cho của người chú, xác nhận của nhân chứng... Như vậy vợ bạn không thể yêu cầu được hưởng một phần trị giá ngôi nhà đó khi hai người ly hôn.

Thuận tình ly hôn (Điều 90 - Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000)

A. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;
- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo,Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
B. Trong trường hợp hoà giải tại Toà án mà thiếu một trong các điều kiện được nêu tại điểm A mục này thì Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.
C.  Việc chia tài sản của 2 vợ chồng khi ly hôn do thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tòa án tiến hành thủ tục chia tài sản theo quy định pháp luật (Bộ luật dân sự 2005)./

Chồng chết trong khi xin ly hôn, vợ có được hưởng tài sản của vợ?

Chồng chết trong khi xin ly hôn, vợ có được hưởng tài sản của vợ?
Năm 2005 do có mâu thuẫn về tài sản nên vợ chồng tôi đã phân chia tài sản chung. Đến 9/2008 tôi đã làm đơn xin ly hôn. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết ly hôn thì chồng tôi đột ngột qua đời nhưng không để lại di chúc. Sau khi chồng tôi chết, mẹ chồng tôi đã tự ý chia tài sản của chồng tôi rồi nói tôi không còn có quyền gì đối với tài sản của anh ấy vì trước đó hai người đã chia tài sản rồi và chúng tôi đã xin ly hôn nên tôi không còn liên quan gì nữa. Xin cho biết tôi có còn được hưởng thừa kế tài sản của chồng tôi không?
Gửi bởi vào ngày
Trả lời
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung của mình để xác lập phần tài sản của mỗi người trong khối tài sản chung đó. Việc chia tài sản của vợ chồng không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ. Trường hợp của chị, khi chị đang làm thủ tục xin ly hôn mà  chồng chị mất thì không làm mất đi quyền thừa kế của chị đối với tài sản của chồng

Theo quy định tại Điều 680 Bộ luật Dân sự quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác thì:
- Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Với các quy định nói trên thì chị hoàn toàn có quyền hưởng di sản thừa kế của chồng. Nếu không đồng tình với quyết định của gia đình nhà chồng, bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được qui định tại các điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)


Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70).
Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây(1). Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.
Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chúng tôi muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn cụ thể hơn(2).
1. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?
Theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp người có quyn có đủ chng c cho rng, v chng không có tho thun hoc không yêu cu Tòa án chia tài sn chung trong thi k hôn nhân nhm mc đích trn tránh thc hin nghĩa v v tài sn, thì người có quyn có th yêu cu Toà án chia tài sn chung ca v chng trong thi k hôn nhân để ly phn tài sn ca người v hoc người chng có nghĩa v thc hin thanh toán các khon n. Yêu cu ca người có quyn s không được Toà án công nhn, nếu vic chia tài sn chung nh hưởng nghiêm trng đến li ích gia đình ca người có nghĩa v hoc bn thân v, chng có nghĩa vđủ tài sn riêng để thanh toán các khon n.
2. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án. Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tn ti, nếu mt bên yêu cu và có lý do chính đáng, thì có th chia tài sn chung ca v chng theo qui định Điu 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) ca Lut này”. Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, theo chúng tôi cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:
Khi chia tài sn chung, Toà án căn c vào lý do, mc đích chia tài sn chung để quyết định phm vi tài sn chung được chia. Vic chia tài sn chung căn c vào các nguyên tc chia tài sn khi ly hôn qui định ti Điu 95 ca Lut HN&GĐ; nếu tài sn là nhà và quyn s dng đất thì áp dng các qui định ti các điu 97, 98 và 99 ca Lut HN&GĐ.
3. Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “m”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.
Theo chúng tôi, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sn bo đảm cho các nhu cu chung ca gia đình.
Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hp v chng không tho thun được vic bo đảm các nhu cu chung ca gia đình, thì có th yêu cu Tòa án gii quyết. Toà án quyết định mc đóng góp ca các bên trên cơ s nhu cu thc tế ca gia đình và kh năng kinh tế ca các bên hoc quyết định không chia toàn b tài sn chung, phn tài sn chung không chia được s dng cho nhu cu ca gia đình.
4. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo chúng tôi, cần qui định rõ: Trong trường hp tho thun chia tài sn chung trong thi k hôn nhân b Toà án tuyên b vô hiu, chế độ tài sn chung ca v chng được khôi phc li tình trng trước khi có tho thun chia tài sn chung.
5. Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng bản chất pháp lý của nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản pháp lý được qui định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được qui định tại Điều 27 phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thoả thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được qui định tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000(3).
6. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hp sau khi chia tài sn chung, v chng có tranh chp v chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dc con chưa thành niên, con đã thành niên mt năng lc hành vi dân s, không có kh năng lao động, không có thu nhp và không có tài sn để t nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cu ca v, chng hoc ca các cá nhân, cơ quan, t chc có thm quyn. Vic gii quyết tranh chp liên quan đến con áp dng tương t qui định v quyn và nghĩa v gia cha m và con khi ly hôn.

Đơn phương xin ly hôn khi đang có thai - Đứa bé có là con chung của vợ chồng?

"Tôi làm đơn xin ly hôn chồng trong khi đang mang thai được 3 tháng. Tôi lo ngại rằng sau khi tòa án giải quyết cho ly hôn, đến lúc tôi sinh con thì chồng cũ của tôi không thừa nhận đứa trẻ là con mình và từ chối cấp dưỡng. Xin cho biết: Cháu bé sinh ra có được coi là con chung của vợ chồng không? Chồng tôi có quyền yêu cầu xin ly hôn không?".

Trả lời:

Xin chia sẻ với bạn mấy ý kiến sau:

1. Điều 85 Luật HNGĐ quy định: “1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. 2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.

Như vậy, chồng của bạn không được quyền yêu cầu ly hôn khi bạn đang mang thai. Nếu chồng bạn nhất quyết ly hôn thì tòa án cũng sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của anh ấy. Nếu muốn yêu cầu ly hôn, chồng bạn phải đợi đến khi bạn sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được nộp đơn xin ly hôn trở lại.

Tuy nhiên, cũng theo quy định của điều luật trên, người vợ vẫn có quyền xin ly hôn trong khi đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (kể cả trường hợp hai người thuận tình ly hôn). Cho nên nếu việc tiếp tục chung sống với anh ấy mà làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn và/hoặc bào thai trong bụng bạn, thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn và tòa án sẽ thụ lý và giải quyết.

2. Việc xác định con chung của vợ chồng được quy định tại Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Ngoài ra, con được sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật cũng được xác định là con chung của hai người.

Theo quy định nói trên, giả sử nếu thời điểm cháu bé sinh ra chỉ sau 5 tháng (150 ngày) kể từ ngày bản án, quyết định của toà án xử cho vợ chồng bạn ly hôn có hiệu lực pháp luật (tôi giả định trong trường hợp bạn yêu cầu xin ly hôn vào khoảng tháng thứ 3 hoặc 4 của thai kỳ) thì đứa trẻ vẫn được xác định là con chung của hai người.

Trong trường hợp người chồng không công nhận đứa trẻ là con chung của hai người thì phải có chứng cứ và phải nhờ toà án xác định. Người chồng có thể tự mình (hoặc đề nghị tòa án) cho trưng cầu giám định ADN của đứa trẻ và/hoặc đưa ra các chứng cứ khác để chứng minh đứa trẻ không phải là con đẻ của mình. Kết quả giám định ADN (hoặc các chứng cứ khác) cùng yêu cầu của người chồng sẽ được tòa án xem xét và quyết định.

Nếu người chồng không thể chứng minh đứa trẻ không phải là con đẻ của mình thì vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo qui định của pháp luật.

Chúc chị mẹ tròn con vuông !